|
Hôm nay nhé!
|
Tổng quan về elearning
Chương I
eLearning và ảnh hưởng của nó đối với việc dạy và học
eLearning là một khái niệm mới mẻ, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Trong chương này, chúng tôi giới thiệu một số định nghĩa cũng như làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan đến eLearning, đồng thời cũng phân tích các ảnh hưởng của eLearning đối với việc dạy và học.
1. eLearning là gì
Từ thủa sơ khai, con người đã có các hoạt động học và đào tạo. Hình thức đào tạo phổ biến nhất từ trước tới nay (hay gọi là đào tạo truyền thống) là hình thức mà giáo viên và học sinh cùng tập hợp tại lớp học, giáo viên truyền đạt kiến thức còn học sinh tiếp thu.
Theo thời gian, các cách học và đào tạo cũng dần thay đổi. Sự phát triển của khoa học và công nghệ có ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của cuộc sống con người trong đó có cả lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Khoa học công nghệ đã trợ giúp rất hiệu quả cho hoạt động giáo dục đào tạo, giúp tháo gỡ các ràng buộc về không gian, thời gian học, tuổi tác cũng như trình độ của người học trong đào tạo truyền thống, làm thay đổi rất nhiều đến hình thức đào tạo truyền thống.
eLearning (viết tắt của Electronic Learning) là một thuật ngữ mới. Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về eLearning là gì, dựa theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau. Hiểu theo nghĩa rộng, eLearning là việc ứng dụng công nghệ (đặc biệt là CNTT) trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và thỏa mãn nhu cầu đào tạo.
eLearning có thể bao gồm các mức độ từ thấp đến cao như:
- Việc sử dụng các thiết bị trợ giảng điện tử (máy chiếu), các phần mềm máy tính (MS Power Point) để minh họa, trình diễn bài giảng.
- Việc đổi mới thi cử bằng các bài thi trên máy tính độc lập hoặc nối mạng được chấm điểm tự động.
- Việc nâng cao chất lượng quản lý đào tạo bằng các chương trình máy tính.
- Việc tăng cường và đa dạng hóa tài liệu đào tạo bằng các thư viện điện tử, các nguồn tài liệu tra cứu trên đĩa CD, trên các máy chủ nội bộ của tổ chức hoặc trên các Website.
- Việc làm phong phú thêm các hình thức trao đổi, thông tin liên lạc trong đào tạo giữa giáo viên với học viên, học viên với học viên sử dụng các công cụ liên lạc từ xa như: email, đàm thoại trên mạng (chat), diễn đàn qua mạng, trao đổi trực tuyến sử dụng Video-Audio conferencing (bao gồm cả satelline TV conferencing lẫn realtime computer conferencing).
- Các phần mềm dạy học hoàn chỉnh trên máy tính cục bộ hoặc trên đĩa CD (Computer Based Training - CBT) hoặc trên các Website (Web-Based Training - WBT) cho phép học ở mọi nơi, mọi lúc.
Theo quan điểm hiện đại, eLearning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mạng Interner, Intranet, … trong đó nội dung học có thể thu được từ các Website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV, người dạy và người học giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: email, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video (video conferencing) ….Việc giao tiếp ở đây có hai hình thức là giao tiếp đồng bộ (synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (asynchronous). Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó những người sử dụng truy cập mạng tại cùng một thời điểm và giao tiếp với nhau, ví dụ như thảo luận trực tuyến, hội thảo video là các hình thức giao tiếp đồng bộ. Ngược lại giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ email, diễn đàn là các hình thức giao tiếp không đồng bộ.
Một số hình thức eLearning:
- TBT - Technology-Based Training (đào tạo dựa trên công nghệ): là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ đặc biệt là dựa trên CNTT. Thuật ngữ này có thể hiểu một cách tương đương như thuật ngữ eLearning.
- CBT - Computer-Based Training (đào tạo dựa trên máy tính): Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính. Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài. Thuật ngữ này thường được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training.
- Web-Based Training (đào tạo dựa trên Web): là hình thức đào tạo sử dụng công nghệ Web. Nội dung học, các thông tin quản lý khóa học, thông tin về người học được để trên các Website và người dùng có thể dễ dàng truy nhập qua trình duyệt. Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, email…, thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình.
- Online Learning/Training (đào tạo trực tuyến): Hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên…
- Distance Learning (đào tạo từ xa): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm. Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình, hoặc công nghệ Web.
2. Ảnh hưởng của eLearning đối việc dạy và học
Công nghệ eLearning đang biến đổi cách học cũng như nơi học của sinh viên. Người học có thể học mọi lúc mọi nơi (miễn là nơi đó có phương tiện trợ giúp việc học), có thể học theo thời gian biểu cá nhân, với nhịp độ tuỳ theo khả năng, và có thể tuỳ chọn các nội dung học, do đó nó sẽ mở rộng đối tượng đào tạo lên rất nhiều, cho phép giải quyết được vấn đề nan giải trong lĩnh vực giáo dục thế giới đó là nhu cầu được đào tạo của người lao động và sinh viên tăng lên quá tải so với khả năng của các cơ sở đào tạo.
eLearning sẽ có sức lôi cuốn rất nhiều người học kể cả những người mà trước đây họ chưa bao giờ bị hấp dẫn bởi lối giáo dục kiểu cũ và nó rất phù hợp với hoàn cảnh của những người đang đi làm nhưng vẫn muốn nâng cao trình độ. Các chương trình đào tạo từ xa trên thế giới hiện nay đã đạt đến trình độ phong phú về giao diện, sử dụng rất nhiều các hiệu ứng đa phương tiện như âm thanh hình ảnh, hình ảnh động 3 chiều, kỹ xảo hoạt hình …, có độ tương tác cao giữa người sử dụng và chương trình, đàm thoại trực tiếp qua mạng …. Điều này đem lại cho học viên sự thú vị, say mê trong quá trình tiếp thu kiến thức cũng như hiệu quả cao trong học tập.
Ngoài ra eLearning cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh tróng cũ, tự do trao đổi với những người cùng học hoặc giáo viên ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể hoặc đòi hỏi chi phí quá cao.
Những người mới bắt đầu học đều cho rằng eLearning hứa hẹn sẽ để lại một dấu ấn sâu sắc và lâu dài trong giáo dục đại học. Các nhà phân tích và chuyên môn về eLearning dự đoán ngày càng nhiều rằng rất nhiều chương trình đào tạo cao học về quản trị kinh doanh – MBA (Master of Bussiness Administrationd) theo lối truyền thống sẽ biến mất.
Đối với người dạy học, thay vì phải mất thời gian đến các lớp học khác nhau để giảng bài, có nhiều thời gian hơn để chuyên tâm soạn thảo nội dung các bài giảng có chất lượng cao và giải đáp các thắc mắc của người học. Do đặc điểm của các bài giảng trong eLearning khác rất nhiều so với các bài giảng truyền thống, nên đòi hỏi người giáo viên cũng phải có những hiểu biết nhất định về CNTT và phải cộng tác với đội ngũ chuyên môn về CNTT để có thể thiết kế, chuyển đổi các nội dung giảng dạy sang eLearning sao cho có hiệu quả.
Nhưng mô hình học trực tuyến không phải phù hợp với tất cả mọi người, nó chỉ phù hợp với những người học trưởng thành, thực sự có nhu cầu và tự giác học. Thêm nữa, không phải bất kỳ nội dung học nào cũng dễ dàng chuyển đổi sang eLearning. Những môn học mà nội dung có tính quy trình, thay đổi nhanh, yêu cầu cập nhật kịp thời sẽ là những nội dung thích hợp của eLearning.
Không phải trong mọi trường hợp các bài giảng truyền thống được cho là tốt sẽ tự động có chất lượng tốt khi chuyển sang mô hình eLearning. Câu hỏi đặt ra là: liệu các trường có thể làm được sự chuyển từ các lớp học truyền thống sang eLearning ? Nhiều trường đại học đã hợp tác với các các công ty bán hàng có uy tín để phân phối các nội dung học của họ. Một vài trong số các công ty này sẽ trở nên rất vững vàng trong tương lai – theo ông Mark Van Buren, Giám đốc Nghiên cứu thuộc Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (ASTD).
Các trường đại học rõ ràng đang có các lợi thế hơn các nhà cung cấp dịch vụ eLearning khác, đó chính là danh tiếng – ông Van Buren nói. Bởi vì các trường đều được thành lập với mục đích chuyên cho công tác đào tạo nên so với các đơn vị khác chúng có danh tiếng hơn nhiều về lĩnh vực đào tạo. Một cách tương phản, với một khối lượng lớn giáo trình từ ban đầu, rất khó kiểm soát được chất lượng của dịch vụ eLearning – ông nói.
Các trường đại học quan tâm đến eLearning vì một số lý do: nhằm cung cấp mô hình học suốt đời, tăng các khả năng lựa chọn mô hình học cho sinh viên, đồng thời khai thác khả năng của công nghệ để thoả mãn nhu cầu học cho những người đang đi làm., và tất nhiên là cả thu nhập nữa.
Phòng đào tạo của các công ty cũng bị hấp dẫn bởi eLearning. Họ tiết kiệm được một khoản tiền đào tạo lớn khi thay thế mô hình đào tạo truyền thống bởi eLearning, đồng thời nhân viên được đào tạo cũng thích kiểu đào tạo này vì có thể tiết kiệm đựơc thời gian hơn cho việc học.
Theo ông LeBlanc - hiệu trưởng trường Đại học Marlboro, trong thập kỷ tới sẽ có sự thay đổi rất dữ dội trong lĩnh vực giáo dục thường xuyên, giáo dục đại học và tại chức. Elearning trong các trường đại học sẽ bao gồm hai thị trường mới chưa được khai thác: học sinh quốc tế và các quan chức. Một sự thay đổi cơ bản nữa là sự chuyển đổi giữa các mô hình học mà người dạy đóng vai trò trung tâm sang các mô hình học mà người học đóng vai trò trung tâm hay nói cách khác là chuyển từ “dạy” sang “học”, nó bao gồm việc tách người dạy ra khỏi nội dung học – ông LeBlanc khẳng định.
Một sự thay đổi có thể nữa trong giáo dục gây ra bởi eLearning đó là sự hình thành và phát triển của các công ty eLearning tư nhân. Với các sản phẩm cao cấp, các công ty này sẽ thu hút, chia sẻ thị trường của các cơ sở đào tạo truyền thống trong khi hợp tác với các cơ sở khác. Các công ty này đang gây uy tín để trở thành các đơn vị cấp văn bằng.
Thậm chí sự thay đổi sẽ liên quan đến những vấn đề cơ bản của ngành giáo dục đại học. Ông LeBlanc đã đưa ra câu hỏi: liệu hệ thống bằng cấp truyền thống như cử nhân, thạc sỹ hay tiến sỹ sẽ còn có ý nghĩa lâu hơn nữa không ? hay liệu chúng ta có thể nghĩ đến một sự pha trộn khác trong hệ thống bằng cấp ? Ông dự đoán rằng, sẽ có thêm sự trộn lẫn trong việc sắp xếp thứ tự của văn bằng.
Ông DiPaolo – Giám đốc Điều hành, Trung tâm Phát triển Nghề nghiệp, Đại học Tổng hợp Standford cũng đồng ý như vậy. Để thoả mãn nhu cầu của thị trường, đòi hỏi các trường phải phân nhỏ các khóa học thành các mảnh nhỏ, chẳng hạn “đóng gói” một khoá học 30 giờ thành hai modun 15 giờ.
Trường Standford cũng đã tìm thấy một dây chuyền cung cấp kiến thức mới nhờ vào Internet. Trước đây mỗi giáo viên phải làm mọi thứ, nhưng hiện nay thì khác, một người sẽ làm nhiệm vụ soạn thảo khoá học, người khác sẽ làm nhiệm vụ phân phối nó tới người học, người thì làm nhiệm vụ điều phối, người thì làm nhiệm vụ kèm cặp, phụ đạo – theo lời ông DiPaolo.
Chương II
Tình hình phát triển và ứng dụng eLearning trên thế giới
eLearning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới. eLearning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ, ở châu Âu eLearning cũng rất có triển vọng, trái lại ở châu Á là khu vực chậm tiến đối với công nghệ này. Để có cái nhìn tổng quan về eLearning trên thế giới, chương này lần lượt điểm qua sự phát triển và ứng dụng eLearning ở các châu lục chính như Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á với các dẫn chứng minh hoạ về sự quan tâm hỗ trợ, các biện pháp, chính sách của nhà nước và chính quyền tại các khu vực trên đối với eLearning, sự ứng dụng eLearning trong các cơ sở giáo dục, các công ty, giới thiệu một số đại học ảo …
1. Tình hình phát triển và ứng dụng eLearning ở Bắc Mỹ
Các nỗ lực từ phía chính phủ:Tháng 10/1999 Quốc hội Mỹ đã thành lập Uỷ ban Giáo dục dựa trên Web (Web-based Education Commission). Một trong những nhiệm vụ của Uỷ ban này là đề xuất ra cho Tổng Thống và Quốc Hội những chính sách trợ giúp cho các nhà lãnh đạo giáo dục về các vấn đề liên quan đến việc ứng dụng mô hình đào tạo dựa trên Web để cải tiến và nâng cao nền giáo dục Mỹ. Tháng 12/2000 Uỷ ban này đã thảo ra bản báo cáo mang tên “Sức mạnh của Internet đối với việc học: chuyển từ triển vọng sang thực tiễn” (“The Power of the Internet for Learning: Moving from Promise to Practice”) nhấn mạnh sự cần thiết của việc ứng dụng eLearning vào thực tế.
Tháng 9/2001 Ban Cố vấn về CNTT của Tổng Thống Mỹ (President’s Information Technology Advisory Commitee) cũng đưa ra một bản báo cáo với Tổng thống có tiêu đề “Sử dụng CNTT để thay đổi cách chúng ta học”(“ Using Information Technology to Transform the Way We Learn”). Bản báo cáo đã kết luận việc sử dụng CNTT nói chung trong công tác giáo dục, sử dụng mô hình dạy học dựa trên Web nói riêng là câu trả lời cho nhu cầu bức bách của xã hội về việc chuyển đổi cách học.
Các bang ở Mỹ đang áp dụng nhiều sách lược để phát triển các năng lực tiềm tàng của eLearning trong giáo dục sau trung học (postsecondary education), tập trung vào các đối tượng học tại chức (học trong khi đang đi làm).
- Các bang đang xây dựng các hệ thống phân phối eLearning (delivery system) đến người học thông qua mô hình các Đại học ảo (Virtual University), đồng thời đang thiết lập các mô hình thư viện số (Digital Library) để hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin của người học.
Gần 2/3 số bang trong tổng số 39 bang được hỏi nói rằng họ đều có các trường Đại học ảo và các thư viện số. Một ví dụ về Đại học ảo đó là Đại học ảo Michigan (www.mivu.org/index.asp). Thành lập vào năm 1998 bởi Hiệp hội Phát triển Kinh tế Michigan (Michigan Economic Development Corporation) cộng tác với một vài ngành công nghiệp chủ yếu của bang, sử dụng nguồn vốn 30 triệu USD. MVU (Michigan Virtual University) nhằm cung cấp các chương trình đào tạo thuận tiện, giá rẻ, chẩt lượng cao cho người lao động. MVU không trực tiếp xây dựng các khóa học cũng như cấp bằng. Nó môi giới công việc này cho các trường đại học hoặc các cơ sở đào tạo tư nhân của bang để đưa ra các khoá học tốt nhất về kỹ thuật và hàn lâm từ xa, sử dụng Internet, CDROM, Tivi như các phương tiện phân phối. Cho đến mùa thu 1999, 16 Đại học thành viên đã đưa ra được 124 khoá học cho gần 2000 sinh viên của MVU. Toàn bộ 28 Đại học Cộng đồng của bang Michigan đều tham dự như các “Đại học chủ nhà” (“home colleges”), để cung cấp sự hỗ trợ cho các sinh viên của MVU trong lĩnh vực của họ. Thêm vào đó, một chi nhánh của MVU là Đại học Michigan Virtual Automotive và Manufacturing College (MVAMC), đã ký hợp đồng với các công ty sản xuất để đào nhân viên cho các công ty này. Năm 1998 MVAMC đã chiêu nạp được 3863 sinh viên trong chương trình đào tạo với hãng ô tô Ford. MVU đã nhận được giải thưởng 750000 USD của tổ chức AmeriTech vì đã đưa ra được trường Đại học CNTT ảo Michigan (Michigan Information Technology College) góp phần nâng cao kỹ năng CNTT cho lực lượng lao động của bang này.- Các bang cũng đang đầu tư vào nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên để giáo viên có thể khai thác được các công nghệ mới của eLearning một cách hiệu quả hơn.
Chẳng hạn như bang South Dakota đã lập một trung tâm gọi là Center for Statewide eLearning để nâng cao kỹ năng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên. Trung tâm này dựa trên cơ sở trường Đại học Northen State University (NSU). Trung tâm này nhận huấn luyện cho các giáo viên về công nghệ giáo dục từ xa và cung cấp các khoá học cho các trường thông qua phương tiện cầu truyền hình (video conferencing). Tất cả các sinh viên của NSU sẽ học về các kỹ năng của công nghệ dạy học từ xa để sau này sử dụng công nghệ này trong công việc của họ. Để biết thêm chi tiết xem www.state.sd.us/news/ issues/17.pdf.
- Các bang khuyến khích việc sử dụng eLearning bằng việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và hỗ trợ về mặt tài chính. Gần ¾ số bang được hỏi đều nói là họ có tài trợ cho các cơ sở đào tạo sau trung học để nâng cấp cơ sở hạ tầng. Cụ thể là:
Xây dựng các đường truyền cao tốc ảo phục eLearning.
Ví dụ mạng truyền thông bang Iowa (Iowa Communications Network - ICN) là một mạng thuộc sở hữu và điều hành của bang. Mạng này dùng cáp quang, dài 3400 dặm kết nối hơn 750 lớp học hỗ trợ Internet và truyền thông các dữ liệu đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh, các đoạn phim video. ICN được dùng để truyền hơn 176000 giờ học của nội dung giáo dục nâng cao trong năm tài chính 2001, và quân đội Mỹ sẽ đầu tư hơn 80 triệu USD trong việc đào tạo và một trung tâm mô phỏng sẽ ra nhập mạng này. Để biết thêm chi tiết xem www.icn.state.ia.us/text/txtindex.html.
> Hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng đào tạo sau trung học (postsecondary institution).
Chẳng hạn như Quỹ Tài trợ Cơ sở Hạ tầng Truyền thông bang Texas (Texas’ Telecommunications Infrastructure Fund - TIF). TIF tài trợ cho các dự án liên quan đến Giáo dục từ xa, bao gồm các trường các viện nghiên cứu y học để phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho việc học từ xa và y học từ xa (distance learning and telemedicine). TIF đã tài trợ 28 triệu USD cho các trường đại học tổng hợp và các thư viện, 14,8 triệu USD cho các đại học cộng đồng và đại học kỹ thuật, 9,7 triệu USD cho các trường y khoa. Để biết thêm chi tiết xem www.tifb.state.tx.us/grantloan/timeline.html.
Hợp tác với các công ty để thúc đẩy và mở rộng nguồn tài nguyên cho việc xây dựng eLearning.
Chẳng hạn như sự hợp tác với công ty Cisco và 3Com tại bang Pennsylvania để đưa ra các khoá đào tạo trực tuyến có cấp chứng chỉ.
Một vài bang miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp cũng như cá nhân tham gia vào eLearning.
Nhiều bang đang nỗ lực lấp đầy các khoảng cách số để xoá bỏ các rào cản đối với eLearning.
Những sự khuyến khích hỗ trợ thông thường không đủ để đưa đến các cơ hội về eLearning cho những người còn quá ít hiểu biết về CNTT mà cần phải có những biện pháp đặc biệt. Những biện pháp đang được áp dung hiện nay tại các bang ở Mỹ bao gồm: hoàn thiện các mạng nội bộ của các bang, chẳng hạn Hệ thống Truyền thông Giáo dục Đại học của bang Indiana (Indiana’s Higher Education Telecommunications System) đưa ra các khoá học trực tuyến miễn phí; hay khởi xướng đào tạo CNTT của bang Michigan (Michigan’s IT Training Initiative) cung cấp việc truy cập Internet miễn phí thông qua các thiết bị đầu cuối trong các thư viện của các trường hoặc thư viện công; cho vay tiền để mua máy tính; tổ chức đào tạo cho những người có quá ít hiểu biết về CNTT thông qua các tổ chức phi lợi nhuận như bang Maryland; đưa ra các giải thưởng cho việc tái chế các trang thiết bị máy tính; cổ vũ các cơ sở giáo dục truyền thống mở rộng sự hỗ trợ. Những đề xướng cổ vũ việc sử dụng Internet và eLearning là rất quan trọng bởi vì những nghiên cứu về “khoảng cách số” (“digital divide”) cho thấy trình độ hiểu biết về CNTT và Internet là rất thấp trong một số bộ phận nhân dân như những cán bộ cao cấp, những người có thu nhập thấp hay những người ở vùng nông thôn. Những khởi xướng thành công trong lĩnh vực này của các bang như California hay Mariland đã có tác dụng mở rộng lực lượng lao động có trình độ cao, giảm được khoảng cách về thu nhập gây ra bởi cơ hội đào tạo không không đồng đều.- Các bang đang khảo sát để tìm cách đảm bảo chất lượng của các chương trình eLearning và thu hút được người học.
Các nguyên tắc vận dụng để đảm bảo chất lượng của eLearning đã được các bang mang vào sử dụng.
Để đảm bảo chất lượng các bang công bố danh sách các nguyên tắc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của các ngành công nghiệp bên ngoài cũng như tôn trọng nguyên tắc đề ra bởi các đơn vị đào tạo tham gia các hệ thống ảo. Ban Điều phối Giáo dục Đại học Texas (Texas’ Higher Education Coordinator Board) đã đề ra các nguyên tắc cho các khoá học điện tử. Nguyên tắc liên quan đến chương trình dạy, quá trình dạy cũng như việc đánh giá kết quả học. Để biết thêm chi tiết xem www.thecb.state.tx.us.
Một số bang sử dụng các tín chỉ dựa theo năng lực (competency-based credentials) trong các chương trình eLearning.
Ví dụ một số bang là thành viên của trường đại học tổng hợp Western Governor’s University (WGU). Trường này là tiền thân của hiệp hội Western Governor’s Association bắt đầu cấp bằng và chứng chỉ vào năm 1998. Sinh viên tham dự học được dạy thông qua một số các kỹ thuật dạy học từ xa như Tivi, vệ tinh, Internet. Việc kiểm tra nhập học và kết quả tốt nghiệp hoàn toàn dựa theo năng lực (competencies). Để biết thêm chi tiết tham khảo www.wgu.edu/wgu/academics/understan-
ding.html.
Một số bang khác thành lập các uỷ ban chuẩn hoá kỹ năng để cổ vũ việc việc “học dựa trên hiệu quả” (performance-based learning), “học dựa trên đánh giá thẩm định” (assessment-based learning).
Chẳng hạn Ban Chuẩn hoá Kỹ năng Texax (Texas Skill Standard Board) www.tssb.org/ hay Hội đồng Cấp Tín chỉ và Chuẩn hóa Kỹ năng Nghề nghiệp Illinois (Illinois Occupational Skill Standard và Credentialing Council) www.standards.siu.edu.
- Các bang cũng đang xem xét các vấn đề liên quan đến điều hành khi họ đưa các hoạt động eLearning vào một hệ thống có tổ chức. Họ đang tìm cách đảm bảo tính riêng tư, tính an toàn cũng như cách bảo vệ bản quyền tài sản trí tuệ trong môi trường eLearning.
Về tính riêng tư (privacy): bang Connecticut đã có các chuẩn cấp bang về việc truyền thông điện tử (xem www.state.ct.us/cmac/policies). Về tính an toàn (security): Đại học Tổng hợp Hawai (University of Hawaii) đã đề ra các nguyên lý chỉ đạo cho việc sử dụng các tài nguyên CNTT của trường để vạch rõ sự bảo vệ có hiệu quả, sự truy cập công bằng và những nguyên lý về quản trị. Những nguyên lý chỉ đạo này đã bổ sung thêm cho các luật hiện hành và nhấn mạnh vào việc bảo vệ mật khẩu và sự an toàn trực tuyến. Để biết thêm chi tiết xem www.hawaii.edu/infotech/policies.itpolicy.html. Về sự bảo vệ bản quyền trí tuệ, Đại học Tổng hợp Minnesota (University of Minnesota) đã có bộ luật về tư cách đạo đức, đưa ra các điều khoản cho việc sử dụng đúng đắn các tài nguyên công nghệ. Bộ luật chỉ ra rằng: người sử dụng hệ thống phải không được dính líu hay cho phép các hành vi quấy rối hay phân biệt đối xử bất hợp pháp. Bộ luật cũng gợi ý rằng những người soạn giáo trình trong hệ thống các trường đại học phải bảo đảm tính nguyên bản (originality) của công việc họ làm và phải thừa nhận vào những người tham gia đóng góp vào công việc của họ. Để biết thêm chi tiết xem www.umn.edu, www.umn.edu/regents/policies/academic/Conduct.pdf.
Trong tình hình eLearning tại Mỹ hiện nay hầu hết các biện pháp trên đây đang được tiến hành trên hầu hết các bang. Các bang bắt đầu lợi dụng thế mạnh của vô số các tuỳ chọn được mang lại nhờ các công nghệ học mới khi họ mở rộng khả năng nâng cao trình độ cho lực lượng lao động để chuẩn bị cho nền kinh tế tri thức.
Mặc dù các bang đang bận rộn với việc phát triển các cơ hội của eLearning, họ cũng nhận thấy những khó khăn của việc đưa ra những chuyển đổi lớn của rất nhiều hệ thống học trong một thời gian ngắn như vậy. Các khó khăn đó là: chi phí cho việc xây dựng nội dung học và đào tạo giáo viên, sự mở rộng cần thiết cơ sở hạ tầng, chất lượng của các khoá học, sự hưởng ứng của các cơ sở đào tạo truyền thống, các vấn đề liên quan đến bản quyền sở hữu trí tuệ … Các bang đều coi chất lượng là vấn đề hàng đầu.
Khó khăn dường như tăng lên khi các bang đề cập đến các vấn đề bên trong eLearning. Chẳng hạn như vấn đề vươn tới được những người còn ít hiểu biết về CNTT một cách có hiệu quả, hay vấn đề xây dựng lại các hệ thống đào tạo sau trung học công cộng để loại trừ các sự trùng lặp, sao cho những rào cản về các khoảng cách vật lý giữa các cơ sở thành viên của một đơn vị đào tạo không còn nữa, vấn đề đảm bảo quyền lợi của người học và chất lượng của bài học trong một môi trường đầy biến động mà không gây ra những xáo trộn.
Những sự kiện nói trên cho thấy Chính phủ Liên bang cũng như các bang tại Mỹ đã nhận biết được tầm quan trọng, ảnh hưởng cũng như tiềm năng của eLearning đối với nền giáo dục Mỹ nói riêng và sự phát triển đất nước nói chung. Elearning đã giành được sự ủng hộ và khuyến khích từ phía chính phủ liên bang cũng như chính phủ các bang góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của nó.
Tại Canada, ông Alan Rock, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nói: “Chính phủ Cacada tự hào đã giúp đỡ các cơ sở đào tạo Canada và các công ty xây dựng các mô hình dạy học mới dựa trên Internet”. Các quan chức chính phủ Canada cho rằng tiền đầu tư cho các dự án eLearning là cần thiết vì chính phủ muốn cổ vũ sự đổi mới trong dạy học trực tuyến.
Sự phát triển, ứng dụng eLearning trong các trường học ở Mỹ:Elearning đã bùng nổ thành một trong những ứng dụng hữu ích nhất của Internet. Các trường đại học và cao đẳng đang tranh giành nhau để ra nhập vào thị trường eLearning.Các con số thống kê: Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development - ASTD) gần 47% các trường đại học và cao đẳng Mỹ đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình học từ xa (distance learning) tại thời điểm năm 2000, tạo nên 54000 khoá học trực tuyến. Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu Quốc tế (International Data Corporation - IDC), vào cuối năm 2004 gần 90% các trường đại học và cao đẳng Mỹ sẽ đưa ra mô hình eLearning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng từ năm 1999 đến 2004. IDC dự đoán rằng, chi phí của các trường đại học và cao đẳng cho công nghệ học từ xa (distance learning technology) sẽ tăng 20% mỗi năm, cụ thể là từ gần 300 triệu USD năm 1999 sẽ tăng lên đến 744 triệu USD năm 2004. Thêm vào đó, vốn đầu tư vào việc đào tạo từ xa sẽ đạt đến con số khổng lồ 2,2 tỷ USD vào năm 2004 (trong khi con số này vào năm 1999 là 900 triệu USD).Một sự tìm kiếm nhanh trên Internet sẽ cho thấy hàng trăm trường đại học và cao đẳng đề xướng mô hình dạy học eLearning, trải từ trường Alcorn State đến trường Zion University. Hình như cứ mỗi ngày lại có một chương trình học trực tuyến mới được thông báo. Rất nhiều chương trình nhắm tới những mảng thú vị nhất của thị trường mới – đó là các phòng đào tạo của các công ty hay những người học đang khao khát nâng cao trình độ kiến thức.
Mỗi trường đều đang tìm cách để giành cho mình một phần thị trường vốn đã đầy rẫy các trường đại học ảo (virtual university) và đủ các loại dự án kinh doanh eLearning. Các trường đại học đang bị quyến rũ vào thị trường này với nguồn vốn trí tuệ muốn được khai thác dưới danh tiếng của trường đó. Nhờ có Internet, các trường không còn bị chói buộc vào các vị trí địa lý, ngược lại họ có thể coi toàn cầu như là toàn bộ thị trường của mình.
Tại trường Đại học Standford chẳng hạn, eLearning được xem như là “một sự nỗ lực để mở rộng kinh nghiệm của Standford tới mọi người từng ngày” – theo lời ông Andy DiPaolo, Giám đốc Điều hành Trung tâm Phát triển Nghề nghiệp Đại học Standford.
Bốn đại học danh tiếng là Standford, Oxford, Yale và Princeton đã cùng hợp tác trong một dự án dạy học từ xa trị giá 12 triệu USD, cung cấp các khoá học về khoa học, nghệ thuật trực tuyến. Dự án mang tên “liên minh các trường đại học cho việc đào tạo suốt đời ” (University Alliance for Life-Long Learning), nhắm tới các cựu sinh viên của trường.
Trong năm 2001, Trường Kinh doanh Harvard (Harvard Bussiness School) và Đại học Tổng hợp Standford (Standford University) đã liên kết để mở các khoá đào tạo kinh doanh trực tuyến tập trung vào đối tượng học là các nhà lãnh đạo điều hành của các công ty cũng như của chính phủ trên toàn thế giới. Hai trường nói là, họ hy vọng chương trình của họ trở thành tư liệu hàng đầu thế giới về giáo dục quản lý trực tuyến. Trước đó Trường Công nghệ Standford (Standford School of Engineering) – đơn vị đi tiên phong trong lĩnh vực dạy học từ xa – đã đào tạo ra 25% số thạc sỹ thuộc ngành này qua đào tào từ xa. Sau Harvard và Standford, hai trường đại học nổi tiếng khác là New York và Columbia cũng mở các khoá học tương tự. Việc các trường đại học hàng đầu này mở chương trình eLearning cho thấy xu hướng phát triển của mô hình này sẽ rất mạnh mẽ.Đầu năm 2001, Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã tạo ra một điểm sáng khi nó hoàn thành bản kế hoạch đưa gần như toàn bộ giáo trình học của trường lên mạng Internet hoàn toàn miễn phí. MIT nói rằng, trong vòng 10 năm tới sẽ cung cấp trên mạng các tài liệu của hơn 2000 khoá học bao gồm các bài giảng, bài đọc, bài kiểm tra, mô phỏng và các bài giảng video. Về phương diện nào đó, đề xuất của trường MIT làm tăng thêm quyết tâm của các trường đại học khác đang xem Internet như là một nguồn lợi quyến rũ.
Đại học Tổng hợp Canada (Canadian University) cũng đưa ra khoá học trực tuyến về đất trồng và phân bón mang tên The Land. Với số vốn đầu tư 1 triệu đô la Canada, khoá học hướng tới đối tượng học là các nhà chuyên môn nông nghiệp.
Hiện đang có một cuộc chạy đua giữa các trường lớn và nhỏ trong thị trường eLearning nhằm thu lợi từ thị trường khổng lồ này. Một ví dụ là Đại học Trực tuyến Phoenix – đơn vị đang dẫn đầu với hơn 18000 sinh viên. Trong 6 tháng từ 9/2000 đến 2/2001, trường này đã thu về 70,2 triệu USD, tăng 65% trong đó tiền lãi là 11,6 triệu USD tăng 72%. Với 23000 USD, sinh viên có thể đạt được trình độ MBA tại Phoenix, một món khá hời nếu so sánh với gần 80000 USD phải trả tại Trường Kinh doanh Fuqua - Đại học Tổng hợp Duke (Duke University’s Fuqua School of Business) – nơi mà một chương trình học trực tuyến cũng được đưa ra. Số người đăng ký học tại Phoenix nhiều gấp hai lần của trường Đại học Quốc tế Jones (Jones International University) – là trường đại học hoàn toàn trực tuyến đầu tiên ở Mỹ - đối thủ cạnh tranh hàng đầu của Phoenix. Với một mảng rất lớn các khoá học được công nhận giành cho đối tượng vừa học vừa làm, Phoenix đang xông xáo nhắm tới thị trường đại học giành cho các công ty với các chương trình học giá vừa phải, và các tuỳ chọn học mềm dẻo. Trường cũng làm việc với các công ty khách hàng để tuỳ biến các khoá học cho phù hợp với nhu cầu khách hàng. Phoenix đã xác nhận là gần một nửa số sinh viên của trường được cơ quan trả học phí.
Sau đây là một số đại học trực tuyến:- Đại học Tổng hợp Maryland www.umuc.eduĐây là đại học công lập lớn nhất tại Mỹ có các khoá đào tạo trực tuyến. Bắt đầu cung cấp dịch vụ từ 1990. Năm 2001 số người đăng ký học trực tuyến lên đến 63000 người, tăng gấp đôi so với năm trước đó. Học viên có thể được cấp 70 văn bằng các loại qua mạng. Học phí: tương tự như các khoá học trên lớp của trường – 197$ cho một giờ học với sinh viên đại học, 301$ với sinh viên sau đại học. Sinh viên nước ngoài phải trả gấp đôi.- Đại học Trực tuyến Phoenix online.uophx.eduĐại học trực tuyến lớn nhất nước Mỹ. Các lĩnh vực đào tạo bao gồm: cử nhân tài chính kế toán, quản trị và marketing, thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA), tiến sỹ về quản lý. Việc học và thi cử hoàn toàn qua mạng. Học phí: 400$ đến 500$ cho mỗi môn học. Để lấy được văn bằng MBA học phí khoảng 23000$.- Đại học Quân sự Trực tuyến eArmyU www.earmyu.comTừ 1/2001, eArmyU cho phép các binh lính Mỹ đăng ký học và lấy văn bằng của 24 trường đại học trên khắp nước Mỹ. Mỗi người học được cấp một máy tính xách tay, một máy in và quyền truy cập Internet. Cho tới 12/2001 có 10400 người học, dự tính đến 2003 sẽ áp dụng cho toàn bộ quân đội Mỹ. Học phí: miễn phí cho quân đội, dân thường không được phép đăng ký học.- Đại học Western Governors www.wgu.eduĐây là đại học trực tuyến được thành lập năm 1997 bởi 19 bang miền Tây nước Mỹ. Các khoá học được thiết kế theo trình độ từng học viên dựa theo kết quả kiểm tra nhập học. Nội dung học cho mỗi cá nhân dựa trên mức độ thiếu hụt kiến thức cần bù đắp của cá nhân đó. Trường được tài trợ bởi các công ty như IBM, AOL, Microsoft. Học viên phải trả 4500$ cho việc kiểm tra đầu vào và tiền giáo viên hướng dẫn, ngoài tuỳ thuộc vào nội dung học còn phải trả thêm các khoản thêm nữa.- Đại học Mở Harvard www.extension.harvard.eduCó 35 khóa học lấy các văn bằng trực tuyến về các nội dung: khoa học máy tính, thuật toán máy tính, xây dựng Website. Dự kiến sẽ mở rộng hơn nữa trong tương lai. Học phí từ 275$ không có tín chỉ cho tới 1750$.- Đại học Cardean www.cardean.eduĐược thành lập bởi công ty phát triển các ứng dụng eLearning có tên Unext kết hợp với các đại học Standford, Chicago, Columbia. Trường đã cung cấp dịch vụ học trực tuyến cho nhân viên công ty General Motors trong khi nhanh tróng quảng cáo dịch vụ tới đông đảo khách hàng. Học phí khoảng 25000$ cho văn bằng MBA.- Đại học Quốc tế Jones www.jonesinternational.eduThành lập 1993 bởi Công ty Truyền hình Cáp, trước đó từng cung cấp dịch vụ đào tạo từ xa qua TV cáp. Trường có hơn 40 chương trình đào tạo cấp đại học và thạc sỹ. Văn bằng MBA học phí khoảng 12000$.- Đại học Capella www.capella.eduCung cấp hơn 500 khoá học trong mỗi quý. Sinh viên có thể được cấp 15 văn bằng khác nhau từ 80 chuyên ngành. Hầu hết trong số 4000 sinh viên đang theo học về kinh doanh, giáo dục hoặc CNTT. Tiền học từ 1150$ đến 1600$ cho một khoá học. Để lấy bằng thạc sỹ, học phí là 20000$, bằng tiến sỹ khoảng 34000$.Các trường đại học đi theo nhiều hướng khác nhau trong lĩnh vực eLearning. Trường Đại học Tổng hợp New York và Trường Đại học Tổng hợp Mariland nằm trong số các trường thiết lập các bộ phận chuyên trách để kinh doanh eLearning. Trong khi đó, các trường như Williams, Amherst, Brown và Cornell thì tham dự vào Nghiệp đoàn Mạng Giáo dục Toàn thể (General Education Network consortium). Những hội liên hiệp học từ xa khác cũng đang được thiết lập giữa các trường đại học với các ràng buộc về địa lý, tôn giáo …Rất nhiều trường khám phá ra rằng bằng cách hợp tác với các công ty tư nhân họ có thể bước vào thị trường eLearning với độ rủi ro thấp hơn nhiều nếu họ tự làm một mình. Sau đây là một vài sự phát triển gần đây của các trường thực hiện eLearning.Phối hợp với nhau: bốn trường đại học là những thành viên rất tích cực trong lĩnh vực học từ xa đã nhóm họp thành một đội đặt tên là Alliance of Four để cung cấp các khóa học eLearning cho các khách hàng công ty. Đại học The University of California at Berkeley, đại học Penn State University, đại học University of Washington và đại học University of Wisconsin đã đưa ra bản kế hoạch vào 1/2001 để cùng nhau xây dựng các chuẩn nội dung nhằm thúc đẩy sự chấp nhận eLearning trong giáo dục thường xuyên của người học và các khách hàng công ty.Tiến tới toàn cầu hoá: đại học Lansbridge University, một trường đại học trực tuyến tư nhân đặt tại Brunswick, Canada đã hợp tác với Công ty Tư vấn Phát triển Nguồn Nhân lực đặt tại Đài Loan có tên Chain-E, để tiếp thị các chương trình học trực tuyến và cấp bằng của trường cho các sinh viên Đài Loan và Trung Quốc. Lansbridge được thành lập vào 12/1999 bởi công ty LearnSoft Corporation với tư cách là một trường đại học phân phối các khoá đào tạo quản lý mềm dẻo, đủ khả năng và hướng thị trường (market-driven) tập trung vào các nền kinh tế phát triển nhanh. Chương trình của Lansbridge đưa ra ba mô hình về e-MBA (e - Master of Bussiness Administrator) với 92 sinh viên. Chain-E cũng ra nhập mạng tuyển dụng bao gồm các trường như ArthurD. Little School of Management tại Mỹ, Synphonix tại Anh và châu Âu, karROX Technologies tại Ấn độ và Stamford College tại Malaysia.Hợp tác với các ngành công nghiệp: EduPoint (đặt tại San Diego, Mỹ) được coi như một bạn hàng công nghiệp đầu tiên của tổ chức Alfred P. Sloan Foundation, một tổ chức phi lợi nhuận điều hành một hiệp hội các cơ sở đào tạo đại học có uy tín để đưa ra các chương trình học trực tuyến cấp các văn bằng đại học, sau đại học. EduPoint sẽ đưa vào chương trình có tên Corporate Learning Marketplace 2.0 các khoá học của hơn 80 cơ sở đào tạo uy tín là thành viên của hiệp hội Sloan’s Asynchronous Learning Network Consortium viết tắt là Sloan-C. Chợ bán hàng trực tuyến này cho phép những người học cá nhân và người học là nhân viên các công ty có thể tìm kiếm, so sánh, đánh giá và đăng ký học một cách hiệu quả. Nó thu thập, tổ chức, cập nhật thông tin khoá học từ các trường có uy tín, cũng như các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo.Chất lượng của các khoá học tại các đại học trực tuyến là rất khác nhau. Đó chính là lý do tại sao các trường đại học như Phoenix và các công ty tư nhân như UNext lấy làm kiêu hãnh về việc phân phối ra các sản phẩm học chất lượng cao. Cả hai đều đang xông xáo tìm cách thu hút các khách hàng công ty.Chẳng hạn Deerfield, chi nhánh của UNext tại Illinois đã đầu tư rất mạnh để cung cấp các chương trình học hàng đầu cho đối tượng là các nhà chuyên môn đang đi làm. Nó đã mở ra trường đại học ảo mang tên Cardean University, một đại học ảo có uy tín đào tạo không cấp tín chỉ cho các khoá học MBA. Các khoá học ở đây được xaay dựng bởi các bạn hàng là các trường đại học như Standford University, Columbia University, Carnegie Mellon University, the Universisty of Chicago, London School of Economics.Chương trình học được modun hoá – theo lời ông Andrew M. Rosenfield, một cựu giáo sư, uỷ viên hội đồng quản trị trường đại học University of Chicago, người sáng lập và hiện là chủ tịch công ty. Mọi người có thể học chỉ những kỹ năng cũng như chủ đề mà họ cần, không nhất thiết phải theo toàn bộ khoá học. Sinh viên có thể học vào lúc thuận tiện nhất với họ, với tốc độ học nhanh chậm tuỳ theo khả năng từng người. Ông xác nhận, giáo trình của khoá học ở đây không bao giờ bao là các bài giảng đơn điệu, thay vào đó chúng tôi thử thách sinh viên bằng các bài tập tương tác, các vấn đề, các sự mô phỏng và các thí nghiệm.Khối liên minh gây ấn tượng cùng với các khoá học tương tác của UNext làm cho công ty thu hút được các khách hàng công ty lớn như General Motors (GM). Trong vòng 4 năm 88000 nhân viên của GM bao gồm các nhân viên kỹ thuật, các nhà lãnh đạo điều hành, các nhà chuyên môn sẽ truy cập vào đại học ảo Cardean thông qua trường đại học của công ty mang tên General Motor University.Sự phát triển, ứng dụng eLearning trong tổ chức doanh nghiệp ở Mỹ:Việc ứng dụng eLearning trong các tổ chức và doanh nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ nhất tại khu vực Bắc Mỹ. Không còn nghi ngờ gì nữa, nguyên nhân chính là do sự nhận thức được những lợi ích mà eLearning mang lại cho tổ chức, đó là: tiết kiệm được thời gian và chi phí đào tạo, tăng năng suất lao động, khả năng sinh lợi và nâng cao lòng trung thành của đội ngũ nhân viên.Theo ước tính của công ty IDC, thị trường đào tạo trực tuyến cho các công ty năm 2000 tại Mỹ trị giá 2,3 tỷ USD, con số này sẽ tăng lên 18 tỷ USD vào năm 2005.Công ty Maisie Center - một công ty chuyên nghiên cứu về công nghệ đào tạo – đã ước tính có tới 92% các công ty lớn đã triển khai một vài ứng dụng của eLearning trong năm 2001 và cho rằng nhiều trong số này sẽ triển khai eLearning lên toàn tổ chức trong hai năm tới.Tại Canada, có những nghiên cứu cho rằng trong tương việc đào tạo nhân viên theo lối truyền thống sẽ được thay thế bởi eLearning. Theo IDC Canada, hơn 60% các công ty lớn của Canada đã triển khai eLearning vào cuối năm 2001.Dưới đây là một vài ví dụ về sự triển khai ứng dụng eLearning tại một số công ty.- Tháng 5/2001, công ty IBM ký hợp đồng với Đại học Quản lý Boston để cung cấp dịch vụ eLearning về đào tạo bán hàng trực tuyến tới 30000 nhân viên IBM trên toàn cầu. Dự kiến mỗi nhân viên sẽ theo học một khoá học 3 tuần trong 1 năm. 75% các khoá đào tạo cán bộ quản lý mới ra nhập công ty là trực tuyến. Nỗ lực này đã tiết kiệm cho IBM 350 triệu USD trong ngân sách đào tạo nhờ giảm được chi phí đi lại, chi phí làm thêm ngoài giờ và các chi phí kh�Nguyễn Văn Hải @ 23:36 29/06/2010
Số lượt xem: 514

























Các ý kiến mới nhất